Đặc điểm Nai đen

Mô tả

Một con nai đực đen tại Thái Lan (Khao Yai)

Nai đen có thân hình cao to vững chắc, chúng thuộc loài to lớn trong họ Hươu nai với khối lượng từ 80 đến 220 kg và chiều cao từ từ 100–140 cm. Nai có lông da màu nâu đen, có màu nâu nhạt hơn ở phần dưới cằm, phía trong chân, giữa hai mông và phần dưới đuôi. Bộ lông dày và sáng hơn vào mùa lạnh nhưng mùa nóng nhiều lông rụng và nhìn những con nai có màu tối hơn. Nai cái và nai con có màu sắc lông da nhạt hơn con đực.

Nai có hiện tượng thay lông hàng năm từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm. Trước khi thay lông, bộ lông cũ mùa đông bạc màu đi rõ rệt, trở nên xơ xác, sự thay lông còn diễn ra thành từng đám nham nhở, trông con vật rất xấu và gầy đi nhiều. Mắt to trong sáng, tuyến lệ rất phát triển. Khi trong đàn nai cái có con động dục thì nai đực có tuyến lệ chảy sệ xuống nhìn thấy rất rõ.

Khối lượng nai đực từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi cao hơn nai cái. Giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi tăng trọng của nai đực và nai cái nói chung nhanh hơn vì giai đoạn này nai con được hưởng nguồn chất dinh dưỡng từ sữa mẹ. Khối lượng nai sơ sinh trung bình đực cái là 5.84 kg. Giai đoạn 6-12 tháng tuổi khối lượng nai tăng chậm hơn. Trong điều kiện nuôi nhốt, khối lượng sơ sinh trung bình của nai đạt 5,84 kg, khối lượng 6 tháng tuổi 30 kg, khối lượng 12 tháng tuổi 41,25 kg.

Tập tính

Nai đen rất nhút nhát và hiền lành, thính giác, khứu giác của chúng phát triển tốt, đặc biệt chúng hay nhát sợ người, chúng khó tiếp cận, thân trọng khi nhìn thấy người từ xa đã tìm cách lẩn tránh mặc dù có thể được con người chăm sóc, nuôi dưỡng từ lâu. Nai đen có thính giác và khứu giác phát triển nhằm giúp chúng tránh được nguy hiểm nếu bị kẻ thù xâm hại. Nai thường sống theo nhóm, tập tính bầy đàn của chúng cao, khi nằm nghỉ hay nhai lại chúng thường tụ tập theo loài riêng rẽ, chúng thích sống theo bầy đàn nhỏ vào khoảng ba con thông thường là một gia đình. Nai đực không đóng vai trò trong việc nuôi con chung, chúng chỉ giao phối với nhóm nai cái trong thời gian động dục. Mùa động dục nai đực thường ăn ít, tính tình dữ tợn có khi gây nguy hiểm cho con người.

Môi trường sống thích hợp trong tự nhiên của nai là trảng cỏ, rừng thưa có nhiều cây, cỏ non. Ban ngày nai thường tìm nơi nên tĩnh, kín đáo và an toàn để ngủ, nghỉ, ban đêm tìm kiếm thức ăn và những hoạt động khác. Đối với con người thì nai được nuôi bán chăn thả tự nhiên, là hình thức nuôi vừa có chuồng nuôi vừa có đồng cỏ chăn thả. Hình thức này môi trường sinh thái của con vật được mở rộng hơn, phù hợp mọi hoạt động sống hoang giả của nó, phù hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng nên nai thuần hơn, đỡ nhút nhát hơn, thân thiện với chủ nuôi thuận lợi cho việc khai thác triệt để biệtdược quý hiếm của nai đó là nhung nai. Trong điều kiện nuôi nhốt, các hoạt động của nai như ăn, ngủ, nghỉ tiến hành cả ngày lẫn đêm xen kẽ.

Nai chủ yếu hoạt động vào ban đêm. Nai thường ăn vào lúc khoảng 9, 15, 17 giờ vào buổi sáng, thời gian ăn đêm nhiều hơn ban ngày. Nhưng những ngày nóng nai ăn nhiều vào ban đêm, nếu đêm trời có trăng sáng nai tìm ăn muộn hơn so với đêm trời tối. Trời nóng hoặc quá lạnh thì nai ăn giảm. Trong tự nhiên, nai ăn tạp, sức đề kháng cao, ít mắc bệnh. Trong điều kiện nuôi nhốt, nai mắc các bệnh chủ yếu là do chế độ chăm sóc, quản lý, vệ sinh phòng bệnh chưa tốt. Nếu bảo đảm cho nai ăn uống đầy đủ, thức ăn đủ chất lượng, nước uống sạch sẽ, chuồng trại khô ráo, thoáng khí thì đàn nai sẽ khoẻ mạnh, phát triển tốt, hạn chế được sự phát sinh bệnh tật.

Chế độ ăn

Thức ăn của nai chủ yếu là cỏ, lá non, cành cây và các loại củ quả, khi chăn nuôi nó có thể ăn các phế phụ phẩm nông nghiệp như bã bia chẳng hạn. Các loại cây nai thích ăn là lá sung, lá mít, lá vả. Nai ăn tạp nhưng thức ăn chúng phải sạch, thức ăn nai gồm các loại cỏ xanh tươi trồng hoặc tự nhiên như lá sung, lá mít, lá bưởi, lá xoan, các mầm cây ngọt, rau củ quả, thức ăn hỗn hợp tinh, thức ăn đạm, thức ăn có vị đắng chát nai đều thích ăn. Trong điều kiện chăn nuôi, nai ăn 15–20 kg thức ăn thô xanh/ngày, 1–2 kg thức ăn hỗn hợp tinh có thể là cám gạo, ngô đều được và 1–2 kg quả chuối chín, sung, roi, chúng được cho ăn 2 bữa/ngày, đầu mỗi chuồng nuôi treo 1 tảng khoáng liếm cho nai liếm tự do. Ngoai ra cần bổ sung thêm thức ăn tinh, trứng cho nai đực thời kỳ lấy nhung.

Bệnh tật

Nai đen đực tại Thảo Cầm viên Sài Gòn

Trong tự nhiên nai là loài có sức chống chịu cao và ít bệnh tật, trong điều kiện nuôi nhốt chúng sẽ có thể gặp phải một số bệnh tật như bệnh chướng bụng, đầy hơi, bệnh ỉa chảy, bệnh cảm nóng và say nắng và ngoài ra nai còn có thể mặc bệnh lở loét, đau mắt, lở móng. Thời tiết thay đổi đột ngột, nhất là những khi trời có giông bão cũng là nguyên nhân làm cho bệnh dễ phát nai bỏ ăn, không nhai lại, đi lại chậm chạp, lờ đờ, nặng thì đi loạng choạng, mắt đỏ ngầu.

Nai dễ bị mắc bệnh cảm nóng và say nắng vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8 ở Việt Nam do ở ngoài nắng gắt quá lâu, thiếu nước uống. Nai đột nhiên trông lờ đờ chậm chạp, thường hay nằm, không nhai lại, mạch nhanh, thở gấp, mắt đỏ ngầu, có khi mồ hôi toát ra đầm đìa. Không can thịêp kịp thời nai có thể bị chết. Vào mùa hè không cho nai ở ngoài trời nắng gắt quá lâu. Trong sân vườn nên có nhiều cây bóng mát, đặt nhiều chậu đựng nước có pha muối cho nai uống.

Bệnh chướng bụng đầy hơi do nai ăn phải thức ăn kém phẩm chất, như lá cỏ bị thối, mốc, hoặc lá cỏ tươi còn ướt nước hoặc đẫm sương, chúng cũng bị bệnh do nai ăn nhanh quá hay no quá, nhất là ăn no xong lại vận động ngay. Cũng có thể do thay đổi thức ăn đột ngột, từ thức ăn tươi chuyển sang thức ăn khô, hoặc cho ăn no đói thất thường. Do do thức ăn trong dạ cỏ lên men nhanh, sinh ra nhiều hơi, làm bụng phình chướng lên về phía bên trái (phồng cao hơn cả mõm xương hông).

Nếu lấy ngón tay gõ vào vùng bụng này sẽ nghe như tiếng trống. Trực tràng đầy phân, dạ cỏ mất phản xạ co bóp, ngày càng chướng to ép lên cơ hoành, gây rối loạn tuần hoàn. Con vật thở rất khó khăn 2 lỗ mũi nở to, mạch nhanh, cổ cứng đờ. Bệnh nặng hơn nữa thì nai sùi bọt mép, ra mồ hôi đầm đìa, mạch yếu dần, rồi chết vì ngạt thở. Do đó trong chăn nuôi không cho nai ăn những thức ăn kém phẩm chất, không cho ăn quá no và sau khi ăn cần tránh cho vận động quá mức. Không cho ăn lá, cỏ ướt nhiều thành phần và khối lượng thức ăn cần thay đổi dần dần tránh đột ngột.

Đối với bệnh ỉa chảy thì triệu chứng có thể thấy là nai đi phân lỏng do thức ăn kém phẩm chất hoặc do ăn nhiều thức ăn ướt có nhiều nước như củ khoai lang, dây lạc, thức ăn ủ xanh hay đường tiêu hoá bị viêm hoặc giun sán quá nhiều. Thời tiết thay đổi đột ngột, ăn ở bẩn và chật cũng là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh này. Nai kém ăn, hơi sốt, mũi khô, lông xơ xác.

Thời gian đầu thường táo bón, sau ỉa lỏng nhiều lần, làm dính bẩn từ khấu đuôi đến khoeo chân. Phân có màu xanh vàng, sau xanh đen xám, mùi thối khắm, nhiều khi có lẫn những màng nhầy. Nai bị bệnh gầy đi rất nhanh do mất nhiều nước, kiệt sức dần rồi chết. Ban đầu để nai nhịn ăn hẳn trong 1-2 ngày và cho uống nhiều nước sắc đặc những thứ lá chát như búp ổi, lá sim, hồng xiêm để tống hết những thức ăn còn trong dạ dày và cho ăn cháo gạo hay cháo cám có bỏ muối mấy ngày sau khi khỏi đồng thời.

Sinh trưởng

Tuổi thành thục về tính của nai là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Con cái tuổi động dục lần đầu, con đực có phản xạ giao phối. Tuổi thành thục về tính phụ thuộc vào giống, đặc điểm di truyền của bố mẹ và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng. Nai mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ một con ít có trường hợp nào đẻ hai con. Nai là động vật đơn thai. Mùa động dục của nai thay đổi theo vùng địa lý, khí hậu và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng.

Con cái

Nai động dục theo 2 mùa, mùa động dục thứ nhất từ tháng 2 đến tháng 5 nai thời gian này là mùa động dục chính của nai, mùa động dục thứ 2 từ tháng 7đ ến tháng 9. Nhưng ở Tây nguyên ghi nhận mùa động dục của nai lại là tháng 1đến tháng 3 và từ tháng 7 đến tháng 9. Nai có 2 mùa sinh sản rõ rệt. Mùa sinh sản thứ nhất là mùa chính từ tháng 1 đến tháng 2 năm sau. Mùa sinh sản thứ 2 là mùa từ tháng 4 đến tháng 6. Trong điều kiện nuôi nhốt, thì khả năng sinh sản của nai tốt hơn, tuổi thành thục về tính con đực là 35,6 tháng, con cái từ 33,1 tháng, tuổi đẻ lứa đầu con cái 42 tháng thời gian mang thai 255,6 ngày, mùa động dục 2 mùa rõ rệt là mùa từ tháng 2 đến tháng 5 và từ 7 đến tháng 9, chu kỳ động dục 27 ngày.

Trong chăn nuôi, một nai đực có thể phối giống cho 6-8 nai cái. Nếu phối giống nhiều hơn thì không nên cắt nhung, nai đực phải nuôi riêng nhất là mùa động dục và có chế độ bồi dưỡng thức ăn tinh giàu đạm, khoáng, sinh tố, những này phối giống bổ sung thêm 0,5-0,7 kg thức ăn hỗn hợp tinh, 1 đến 2 quả trứng, 1 đến 2 kg trái cây và tảng liếm khoáng treo ở đầu chuồng cho nai liếm tự do. Nai cái mang thai 9 tháng 10 ngày, nai con 2-3 tuần tuổi có thể tập cho ăn cỏ lá tươi, khi nai được 5-6 tháng tuổi thì cai sữa.